Từ thay thế nhập khẩu đến tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của Đức và Nhật Bản

Thay thế nhập khẩu, không phải là một chiến lược phát triển có chủ ý, đã trở thành một chiến lược chi phối sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1929 cho đến khoảng những năm 1970.

Nhu cầu giảm hiệu quả sau vụ sụp đổ đã khiến thương mại quốc tế giảm khoảng 30% từ năm 1929 đến 1932. Trong hoàn cảnh kinh tế tồi tệ này, các quốc gia trên thế giới đã thực hiện các chính sách thương mại bảo hộ như thuế nhập khẩu và hạn ngạch để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước. Sau Thế chiến thứ hai, một số nước Mỹ Latinh cũng như Đông và Đông Nam Á đã cố tình áp dụng các chiến lược thay thế nhập khẩu.

Tuy nhiên, thời kỳ hậu chiến đã chứng kiến sự khởi đầu của những gì sẽ trở thành một xu hướng nổi bật hướng tới sự cởi mở hơn nữa đối với thương mại quốc tế dưới hình thức chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Sau chiến tranh, cả Đức và Nhật Bản, trong khi dùng lợi thế của viện trợ tái thiết từ Mỹ, từ chối các chính sách bảo vệ các ngành non trẻ khỏi sự cạnh tranh nước ngoài. Thay vào đó, họ thúc đẩy xuất khẩu tại các thị trường nước ngoài thông qua một tỷ giá hối đoái bị định giá thấp. Niềm tin là sự cởi mở hơn sẽ khuyến khích sự phổ biến lớn hơn của công nghệ sản xuất và bí quyết kỹ thuật.

Xuất khẩu tại cảng

Với sự thành công của cả nền kinh tế Đức và Nhật Bản sau chiến tranh cũng như niềm tin vào sự thất bại của mô hình thay thế nhập khẩu, các chiến lược tăng trưởng dẫn đầu xuất khẩu đã nổi lên vào cuối những năm 1970. Các tổ chức mới của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới, nơi cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển, đã giúp truyền bá mô hình mới bằng cách viện trợ phụ thuộc vào sự sẵn sàng của chính phủ để mở cửa cho ngoại thương.

Đến thập niên 1980, một số quốc gia đang phát triển trước đó theo chiến lược thay thế nhập khẩu đã bắt đầu tự do hóa thương mại, áp dụng mô hình định hướng xuất khẩu thay thế.