EU nhập khẩu năng lượng từ đâu và phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu như thế nào?

Đối với tiêu dùng của riêng mình, EU cũng cần năng lượng được nhập khẩu từ các nước thứ ba. Eu nhập khẩu năng lượng từ đâu?

EU nhập khẩu các sản phẩm năng lượng nào?

Năm 2017, sản phẩm năng lượng nhập khẩu chính của EU là các sản phẩm dầu mỏ (bao gồm thành phần chính là dầu thô), chiếm gần 2/3 lượng năng lượng nhập khẩu vào EU, tiếp theo là khí đốt (26%) và nhiên liệu hóa thạch rắn (8%).

Nga là nhà cung cấp chính của EU về dầu thô, khí đốt tự nhiên và nhiên liệu hóa thạch rắn.

Sự ổn định của nguồn cung năng lượng của EU có thể bị đe dọa nếu tỷ lệ nhập khẩu cao tập trung giữa các đối tác bên ngoài tương đối ít. Trong năm 2017, gần hai phần ba lượng dầu thô nhập khẩu ngoài EU đến từ Nga (30%), Na Uy (11%), Iraq (8%), Kazakhstan và Ả Rập Saudi (cả 7%). Một phân tích tương tự cho thấy hơn ba phần tư lượng khí đốt nhập khẩu của EU đến từ Nga (40%), Na Uy (26%) và Algeria (11%), trong khi gần ba phần tư nhập khẩu nhiên liệu rắn (chủ yếu là than đá) có nguồn gốc từ Nga (39%), Colombia và Hoa Kỳ (mỗi nước 17%).

EU phụ thuộc như thế nào từ năng lượng nhập khẩu?

Tỷ lệ phụ thuộc cho thấy mức độ mà một nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nó. Điều này được đo bằng tỷ trọng nhập khẩu ròng (nhập khẩu – xuất khẩu) trong tổng mức tiêu thụ năng lượng nội địa (nghĩa là tổng năng lượng được sản xuất và nhập khẩu ròng).

Tại EU năm 2017, tỷ lệ phụ thuộc bằng 55%, điều đó có nghĩa là hơn một nửa nhu cầu năng lượng của EU đã được đáp ứng bởi nhập khẩu ròng. Tỷ lệ này dao động từ hơn 95% ở Malta, Luxembourg và Síp đến dưới 15% ở Estonia và Đan Mạch. Tỷ lệ phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng đã tăng từ năm 2000, khi nó chỉ là 47%.

Như đã đề cập bên trên, EU chủ yếu phụ thuộc vào Nga để nhập khẩu dầu thô, khí đốt tự nhiên và nhiên liệu rắn, tiếp theo là Na Uy cho dầu thô và khí đốt tự nhiên.

Các sản phẩm dầu mỏ chiếm là sản phẩm chính được nhập khẩu